Báo cáo về việc xây dựng Luật giám định tư pháp
Trang chủ
Chủ nhật, ngày 20 tháng 5 năm 2012 Lịch Tuần   |    Web Email
Trang chủ/Tin tức
Báo cáo về việc xây dựng Luật giám định tư pháp
Thứ sáu - 24/12/2010
Thực hiện Nghị quyết số 48/2010/QH2 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2011, điều chỉnh Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2011 và bổ sung Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII...


THƯỜNG TRỰC TỔ BIÊN TẬP DỰ ÁN LUẬT GĐTP
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 

Hà Nội, ngày      tháng       năm 2010
                    
BÁO CÁO

Về việc xây dựng Luật giám định tư pháp
 
Kính gửi: Ban soạn thảo Luật Giám định tư pháp
 
Thực hiện Nghị quyết số 48/2010/QH2 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2011, điều chỉnh Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2011 và bổ sung Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII, Thường trực Tổ Biên tập báo cáo và xin ý kiến Ban soạn thảo về các chính sách, quan điểm lớn, phạn vi điều chỉnh, bố cục và những nội dung cơ bản của Dự án Luật giám định tư pháp, cụ thể như sau:

I. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG
1. Luật Giám định tư pháp cần được xác định là một đạo luật nề tảng, quy định những nguyên tắc cơ bản nhất về tổ chức và hoạt động giám định tư pháp và các cơ chế đảm bảo cho hoạt động giám định tư pháp được thực hiện một cách khách quan, minh bạch, hiệu quả, giá trị của bản kết luận giám định thực sự là nguồn chứng cứ quan trọng trong việc giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong quan hệ dân sự, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, tăng cường dân chủ, đổi mới quy trình tố tụng, bảo đảm quyền con người.
2. Quán triệt quan điểm chỉ đạo về công tác giám định tư pháp tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010, cụ thể là: ” Nhà nước cần đầu tư cho một số lĩnh vực giám định tư pháp để đáp ứng yêu cầu thường xuyên của hoạt động tố tụng; thực hiện xã hội hóa đối với các lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên. Quy định chặt chẽ, rõ ràng về trình tự, thủ tục, thời hạn trưng cầu và thực hiện giám định. Ban hành quy chuẩn giám định phù hợp với từng lĩnh vực giám định. Xác định rõ cơ chế đánh giá kết luận giám định, bảo đảm đúng đắn, khách quan để làm căn cứ giải quyết các vụ việc”.
“ Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.
3. Tạo cơ sở pháp lý cao, vững chắc để cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện việc trưng cầu, sử dụng kết luận giám định hiệu quả; là công cụ, phương tiện hữu hiệu để người tham gia tố tụng sử dụng giám định tư pháp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong việc tranh tụng; thể chế hóa chủ trương nâng cao dân chủ trong hoạt động tố tụng và tạo vị trí xứng tầm của hoạt động giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng, cải cách tư pháp và trong xã hội; làm chuyển biến thật sự nhận thức của các ngành, các cấp về vai trò, tầm quan trọng của giám định tư pháp.
4. Tạo cơ sở pháp lý để khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp; bảo đảm mọi trưng cầu, yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng (tiến hành và tham gia tố tụng) được đáp ứng kịp thời, thuận lợi; kết luận giám định chính xác, khách quan; hoạt động giám định tư pháp phục vụ đắc lực cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử trước yêu cầu càng cao của cải cách tư pháp.
5. Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về giám định tư pháp, bảo đảm quản lý nhà nước đồng bộ, hiệu quả và đi vào thực chất, khắc phục những hạn chế, yếu kém, bất cập trong hoạt động quản lý nhà nước về giám định tư pháp hiện nay, phân định rõ nội dung quản lý và vai trò, trách nhiệm của từng ngành, từng cấp đối với công tác giám định tư pháp; đồng thời xác định rõ vai trò, tránh nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với công tác giám định tư pháp.
6. Kế thừa, phát triển các nội dung, quy định còn phù hợp của Pháp lệnh giám định tư pháp và thành tựu của công tác giám định tư pháp trong thời gian qua, nâng tầm các quy định phù hợp của Pháp lệnh để thể chế bằng Luật.
7. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa Luật giám định tư pháp với hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật, đặc biệt là bảo đảm sự đồng bộ, liên thông với các văn bản pháp luật về tố tụng (đang được sửa đổi, bổ sung).

II. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH LỚN
 1. Thực hiện mạnh mẽ việc xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp, huy động tối đa mọi nguồn lực của xã hội cho việc phát triển giám định tư pháp, đảm bảo hoạt động giám định tư pháp đạt chất lượng và hiệu quả.
2. Phát triển nguồn nhân lực bảo đảm cho hoạt động giám định tư pháp phù hợp với yêu cầu thực tế và đặc thù của từng lĩnh vực, trong đó cần đặc biệt chú trọng đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức pháp lý cần thiết và chính sách thu hút, đãi ngộ về vật chất và phi vật chất đối với các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định tư pháp.
3. Mở rộng hợp tác quốc tế về giám định tư pháp, nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu về giám định tư pháp của những nước tiên tiến trên thế giới, tạo cơ chế và điều kiện cho việc trưng cầu cá nhân, tổ chức giám định nước ngoài thực hiện giám định tư pháp trong trường hợp cần thiết.
4. Thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước và xã hội đối với người nghèo, đối tượng chính sách khi các đối tượng này có yêu cầu giám định trong hoạt động tố tụng, tăng cường bảo đảm công bằng xã hội.

III. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH
Dự kiến Luật Giám định tư pháp sẽ điều chỉnh những vấn đề sau:
-      Quy trình trưng cầu, yêu cầu giám định: quy trình thực hiện giám định; quyền
và nghĩa vụ của chủ thể trưng cầu/yêu cầu, thực hiện giám định; cơ chế đánh giá, sử dụng kết luận giám định.
-      Hệ thống tổ chức; các điều kiện bảo đảm và cơ chế hoạt động của tổ chức
giám định tư pháp do Nhà nước đầu tư; cơ chế hoạt động giám định tư pháp của các tổ chức chuyên môn và cơ chế hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp do tổ chức, cá nhân thành lập.
-      Người giám định tư pháp.
-      Phí giám định tư pháp.
-      Quản lý nhà nước về giám định tư pháp.

IX. BỐ CỤC
Dự kiến Luật giám định tư pháp bao dồm 7 Chương sau:

Chương I: Những quy định chung
Khái niệm Giám định tư pháp, phạm vi điều chỉnh, giải thích thuật ngữ,
nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp, chính sách của nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp, áp dụng điều ước quốc tế.

Chương II: Trưng cầu, yêu cầu và thực hiện giám định
Chủ thể trưng cầu, yêu cầu giám định; quy trình trưng cầu, yêu cầu giám
định; chủ thể thực hiện giám định; quy trình thực hiện giám định; quyền và nghĩa vụ của chủ thể trưng cầu, yêu cầu giám định; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện giám định; trưng cầu cá nhân, tổ chức giám định nước ngoài; giám định lần đầu, giám định bổ sung, giám định lại; cơ chế đánh giá, sử dụng kết luận giám định.

Chương III. Người giám định tư pháp (giám định viên tư pháp và người
giám định tư pháp theo vụ việc)
Tiêu chuẩn, điều kiện của người giám định tư pháp; quy trình bổ nhiệm, cấp
thẻ, công bố và miễn nhiệm giám định tư pháp; quy trình lựa chọn, lập và công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc; quyền và nghĩa vụ của người giám định tư pháp, những hành vi bị cấm đối với người giám định tư pháp.

Chương IV: Tổ chức thực hiện giám định
-      Những lĩnh vực giám định cần được Nhà nước bảo đảm, đầu tư; hệ thống tổ
chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của các tổ chức giám định tư pháp; các điều kiện cần được bảo đảm.
-      Những lĩnh vực giám định không cần Nhà nước phải bảo đảm, đầu tư, mà
chuyển cho các tổ chức chuyên môn thực hiện giám định; điều kiện, tiêu chuẩn; cơ chế hoạt động giám định tư pháp của các tổ chức chuyên môn; quy trình lập và công bố danh sách tổ chức chuyên môn; quyền và nghĩa vụ của tổ chức chuyên môn, trong đó phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức chuyên môn và người được phân công thực hiện giám định.
-      Tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập (các tổ chức giám định tư pháp do
cá nhân hoặc tổ chức thành lập để cung cấp dịch vụ giám định tư pháp cho hoạt động tố tụng): những lĩnh vực được thành lập tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, loại hình tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức này.

Chương V: Phí giám định tư pháp
Nguyên tắc, căn cứ tính phí giám định tư pháp; nguồn chi trả phí giám định
tư pháp; lập dự toán, tạm ứng, thanh toán phí giám định tư pháp, chế độ quản lý và sử dụng phí giám định tư pháp, chế độ miễn giảm phí giám định tư pháp.

Chương VI: Quản lý giám định tư pháp
, gồm các quy định về nội dung
quản lý, phân công nhiệm vụ và quyền hạn của các ngành, các cấp trong quản lý công tác giám định tư pháp, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan này.

Chương VII: Điều khoản thi hành.

V. DỰ KIẾN MỘT SỐ NỘI DUNG LỚN CỦA LUẬT GIÁM ĐỊNH TƯ
PHÁP

1. Về Khái niệm giám định tư pháp

Quan điểm 1: Giám định tư pháp phải là giám định được thực hiện theo
trưng cầu của cơ quan tố tụng, còn người tham gia tố tụng vẫn có quyền tự mình trực tiếp yêu cầu các cá nhân, tổ chức chuyên môn thực hiện giám định để thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình, để tranh tụng nhưng đó không phải là giám định tư pháp. Do đó, theo quan điểm này thì khái niệm giám định tư pháp không thay đổi mà vẫn như Điều 1 của Pháp lệnh giám định tư pháp.
Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp
khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự (sau gọi chung là vụ án) do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án”.

Quan điểm 2:
Một trong những nội dung cốt yếu của Chiến lược cải cách tư
pháp là lấy tòa án và công tác xét xử làm trung tâm, lấy tranh tụng và mở rộng dân chủ trong hoạt động tố tụng là khâu đột phá, nên giám định tư pháp phải trở thành công cụ, phương tiện hữu hiệu, thiết thực cho các bên tố tụng sử dụng, phục vụ đắc lực cho việc tranh tụng của mình. Với tinh thần này, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự đã trao cho các bên đương sự có quyền tự mình trực tiếp yêu cầu các tổ chức, cá nhân chuyên môn thực hiện giám định, mà tòa án không làm trưng cầu giám định hộ các bên đương sự, chỉ khi xét thấy thật cần thiết thì thẩm phán mới trưng cầu giám định phục vụ cho hoạt động xét xử.
Do đó, khái niệm giám định tư pháp không nên bó khung theo chủ thể trưng cầu giám định vốn chỉ thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, mà cần phải sửa đổi khái niệm này theo hướng mở rộng chủ thể yêu cầu giám định cho phù hợp với tình hình hình mới trong điều kiện cải cách tư pháp. Theo đó, khái niệm giám đinh tư pháp nên được xác định là giám định được thực hiện theo trưng cầu của người tiến hành tố tụng có thẩm quyền hoặc yêu cầu của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án. Như vậy, nội hàm của khái niệm giám định tư pháp sẽ mở rộng hơn so với hiện nay.

2. Chủ thể trưng cầu, yêu cầu giám định

Phương án 1:
Nếu khái niệm giám định tư pháp như hiện nay, không thay đổi thì chủ thể có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân chuyên môn thực hiện giám định chỉ là các cơ quan, người tiến hành tố tụng thông qua hình thức trưng cầu giám định.

Phương án 2:
Nếu khái niệm giám định tư pháp được sửa đổi theo quan điểm 2 nêu trên thì chủ thể yêu cầu các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định sẽ được mở rộng và bao gồm: người tiến hành tố tụng có thẩm quyền (quyết định trưng cầu giám định) và cả người tham gia tố tụng (văn bản yêu cầu giám định).
Đây là vấn đề rất khó khi cá nhân, tổ chức yêu cầu vì tiếp nhận thông tin cần bào chữa.

3. Liên quan đến phạm vi điều chỉnh

Phương án 1:
Gắn với khái niệm giám định như hiện nay, Luật giám định tư pháp chỉ điều chỉnh những vấn đề tổ chức, hoạt động và quản lý giám định tư pháp tương tự như phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh giám định tư pháp, ngoài ra bổ sung thêm quy trình trưng cầu giám định tư pháp, quy trình đánh giá và sử dụng kết luận giám định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Phương án 2: Từ khái niệm giám định tư pháp được sửa đổi, mở rộng chủ thể yêu cầu giám định thì phạm vi điều chỉnh của Luật giám định tư pháp sẽ mở rộng hơn phương án 1 nêu trên và điều chỉnh cả chủ thể và quy trình yêu cầu các tổ chức, cá nhân chuyên môn thực hiện giám định cũng như quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng khi yêu cầu giám định.
Ngoài ra, nếu coi việc các tổ chức giám định tư pháp cung cấp dịch vụ giám định cho các tổ chức, cá nhân ngoài xã hội – giám định ngoài tố tụng là một hình thức xã hội hóa để huy động nguồn nhân lực tài chính của tổ chức, cá nhân có yêu cầu giám định phục vụ cho việc phát triển công tác giám định tư pháp thì Luật giám định tư pháp sẽ quy định cả việc cung cấp dịch vụ giám định của các tổ chức giám định tư pháp, giá trị pháp lý của các bản kết luận giám định này.

4. Xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp
4.1.  Mục đích: Xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp nhằm hạn chế các tiêu cực do sự phình to của bộ máy nhà nước, giảm bớt gánh nặng cho bộ máy nhà nước, cho ngân sách nhà nước, tăng cường chất lượng hoạt động giám định phục vụ cho hoạt động tố tụng; huy động mọi nguồn lực xã hội cho sự phát triển công tác giám định tư pháp.
4.2. Nội dung xã hội hóa:
- Về tổ chức, ngoài hệ thống tổ chức giám định tư pháp do nhà nước đầu tư còn coa các tổ chức chuyên môn (thuộc nhà nước hoặc khu vực kinh tế ngoài nhà nước) ở mọi lĩnh vực giám định, nhất là lĩnh vực không có tổ chức giám định tư pháp tham gia hoạt động giám định tư pháp theo trưng cầu, yêu cầu giám định, tổ chức giám định tư pháp do tổ chức, cá nhân thành lập.
- Về đội ngũ người giám định tư pháp: lựa chọn nhà chuyên môn nào có đủ điều kiện ở csc lĩnh vực giám định ở bất kỳ cơ quan, tổ chức chuyên môn, thậm chí là hành nghề tự do để cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm, cấp thẻ giám định viên tư pháp hoặc đưa vào danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc.
4.3. Các hình thức xã hội hóa:
4.3.1. Cho phép cá nhân thành lập một số tổ chức giám định tư pháp tư nhân ở một số lĩnh vực cụ thể.
4.3.2. Các cá nhân, tổ chức chuyên môn (cả các tổ chức chuyên môn thuộc khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước) thực hiện ở những lĩnh vực không thành lập, duy trì tổ chức giám định tư pháp như: văn hóa, tài chính, xây dựng, môi trường… (gắn với phương án mô hình tổ chức được lựa chọn nêu tại phần 5).
4.3.3. Các tổ chức giám định tư pháp do nhà nước đầu tư được cung cấp dịch vụ giám định cho xã hội để huy động nguồn lực tài chính của tổ chức, cá nhân có yêu cầu cho việc duy trì và phát triển hoạt động giám định của tổ chức giám định tư pháp đó.
5. Tổ chức giám định tư pháp
5.1. Những lĩnh vực giám định cần Nhà nước bảo đảm, đầu tư và những lĩnh vực giám định Nhà nước không cần bảo đảm, đầu tư và chuyển cho tổ chức, cá nhân chuyên môn ngoài xã hội thực hiện.
Phương án 1: Như Pháp lệnh hiện nay, Nhà nước thành lập và bảo đảm điều kiện hoạt động cho tổ chức giám định ở lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự, các lĩnh vực còn lại (văn hóa, tài chính, xây dựng, thông tin-truyền thông, nông-lâm-ngư nghiệp…) không duy trì các tổ chức giám định tư pháp mà lựa chọn, lập danh sách các tổ chức chuyên môn có năng lực để cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu khi cần nhưng sẽ tăng cường cơ chế, quy trình lựa chọn, lập danh sách, công bố các tổ chức chuyên môn có năng lực thực hiện giám định để đáp ứng yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Phương án 2: Ngoài ba lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự thì có thể tính toán, thành lập thêm cơ quan giám định ở lĩnh vực giám định khác mà có nhu cầu giám định thường xuyên, lớn cho hoạt động tố tụng để nhà nước bảo đảm, đầu tư. Các lĩnh vực giám định có nhu cầu không lớn, không thường xuyên thì Nhà nước không đầu tư, bảo đảm mà chuyển cho các tổ chức, cá nhân chuyên môn thực hiện và lựa chọn, lập danh sách các tổ chức chuyên môn có năng lực để cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu khi cần.
Phương án này là sự kế thừa, phát triển , bổ sung hệ thống tổ chức giám định tư pháp được quy định trong Pháp lệnh hiện nay.
Phương án 3: Thành lập cơ quan giám định tư pháp trung ương quốc gia và các khu vực hoặc ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo hệ thống dọc do Nhà nước bảo đảm. Cơ quan giám định này bao gồm các lĩnh vực giám định: pháp y , pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, văn hóa, xây dựng, tài chính - kế toán, thông tin – truyền thông và các lĩnh vực khác mà hoạt động tố tụng có nhu cầu.
Đây là mô hình tổ chức mà lâu nay một số cơ quan tiến hành tố tụng, Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đề xuất. Mô hình này có ưu điểm là tập trung các lĩnh vực giám định tư pháp vào một đầu mối, thuận tiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi có yêu cầu giám định, giải quyết được vấn đề khó khăn hiện nay của cơ quan tiến hành tố tụng là phải mất rất nhiều thời gian để đi tìm “địa chỉ” để trưng cầu giám định, nhất là những lĩnh vực giám định mới.
Tuy nhiên, mô hình này rất khó khả thi vì đây là cơ quan đa ngành, đa lĩnh vực và bao gồm chuyên gia ở mọi lĩnh vực, ngành nghề cần giám định. Cơ quan này bao trùm lên tất cả các cơ quan giám định tư pháp hiện có ở lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự như Viện Khoa họa hình sự (Bộ Công an), Viện Pháp y Quốc gia – Bộ Y tế và ở các lĩnh vực khác như tài chính, xây dựng, môi trường, nông – lâm - ngư nghiệp…. Điều đó có nghĩa là hệ thống các tổ chức giám định tư pháp hiện có sẽ không tồn tại nữa mà được thu hút về tổ chức giám định tư pháp quốc gia và ở cấp tỉnh hoặc khu vực. Đây là mô hình chưa có thông lệ trên thế giới vì các quốc gia trên thế giới không lựa chọn mô hình này để thiết lập hệ thống tổ chức giám định tư pháp. Bởi vì bản chất giám định tư pháp là hoạt động chuyên môn ở các lĩnh vực, ngành nghề phục vụ cho hoạt động tố tụng, khi cần giám định ở lĩnh vực nào thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ trưng cầu tổ chức chuyên môn và chuyên gia ở lĩnh vực đó theo cơ chế dịch vụ chuyên môn, khoa học tương thích với điều kiện, quy luật kinh tế của xã hội. Hơn nữa, các lĩnh vực cần giám định phát sinh hàng ngày, hàng giờ nên tổ chức giám định tư pháp này không thể phủ kín hết các lĩnh vực cần giám định của hoạt động tố tụng, mà lại chủ yếu thực hiện việc điều phối hoạt động giám định (là nơi nhận và trả kết quả giám định, việc thực hiện giám định vẫn do các tổ chức giám định tư pháp và tổ chức chuyên môn thực hiện).
5.2. Hệ thống tổ chức giám định tư pháp do nhà nước đảm bảo
5.2.1. Hệ thống tổ chức giám định pháp y
Phương án 1: Như hiện nay: tổ chức giám định pháp y có ở 3 ngành: y tế, công an, quân đội, trong đó hệ thống tổ chức giám định pháp y trong ngành y tế là nòng cốt. Các tổ chức giám định pháp y có ở hai cấp trung ương và đại phương nhưng theo hệ thống dọc, thực hiện giám định trren tử thi và trên người sống (thương tích và các loại giám định khác).
Thực hiện Pháp lệnh giám định tư pháp, đến nay, hầu như các địa phương đều thành lập Trung tâm pháp y tỉnh hoặc Phòng giám định pháp y nhưng thuộc y tế cho thấy, việc thành lập hệ thống tổ chức như vậy là dàn trải, có những nơi lượng việc không đủ để duy trì hoạt động chuyên trách, lãng phí về nhân lực và hiệu quả đầu tư thấp, có những nơi khác thì hầu như chưa được quan tâm, đầu tư về cơ sở vật chất dẫn đến hoạt động rất hạn chế. Do đó, nhiều địa phương cho rằng mô hình tổ chức này không hiệu quả và chưa phù hợp với thực tế địa phương.
Phương án 2: tổ chức giám định pháp y vẫn duy trì ở 3 ngành: y tế, công an, quân đội, trong đó tổ chức giám định pháp y trong ngành y tế là nòng cốt, tổ chức ở trung ương và khu vực theo hệ thống dọc (một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là một khu vực, tùy theo nhu cầu và điều kiện địa lý, điều kiện kinh tế xã hội của nhóm địa phương đó) để bảo đảm hiệu quả đầu tư, tránh dàn trải, đầu tư kém hiệu quả, đồng thời có các bộ phận thường trực và giám định viên tại các cơ sở y tế trên các địa bàn thuộc khu vực đó để đáp ứng tại chỗ, kịp thời các yêu cầu giám định tử thi thông thường, đơn giản.
Bên cạnh đó, có cơ chế huy động, thu hút đội ngũ bác sỹ thuộc các chuyên khoa, các tổ chức chuyên môn trong lĩnh vực y tế như bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh, trường đại học, viện nghiên cứu trên các địa bàn thực hiện giám định pháp y trên người sống.
Ưu điểm của mô hình này là tránh được đầu tư dàn trải, kém hiệu quả như hiện nay, đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất hiện có của các tổ chức chuyên môn, huy động, thu hút các cá nhân, tổ chức chuyên môn tham gia hoạt động giám định; vừa kịp thời giải quyết các vụ việc giám định thông thường tại chỗ , vừa đảm bảo tập trung nguồn lực đáp ứng các vụ việc khó khăn, phức tạp, phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử. Đây là mô hình tổ chức giám định pháp y của nhiều nước trên thế giới mà đã có dịp đi khảo sát và học tập kinh nghiệm (Thụy Điển, Nhật Bản, Đức, Pháp) và phù hợp với tính chất, đặc thù của lĩnh vực giám định pháp y.
Ngoài ra, có ý kiến cho rằng chỉ nên có hệ thống giám định pháp y trong ngành y tế và quân đội, còn pháp y trong ngành công an không nên duy trì nữa, bởi vì hiện nay hệ thống pháp y trong ngành y tế đã được hình thành từ trung ương đến địa phương, cần tiếp tục được củng cố và chăm lo để phục vụ tốt hơn hoạt động tố tụng. Pháp y trong ngành công an cần được xem xét, thu hút về các trung tâm pháp y trong ngành y tế. Trong trường hợp vẫn cần duy trì bộ phận pháp y trong lực lượng công an thì cần có phân định phạm vi hoạt động giữa pháp y y tế với pháp y công an để tránh sự chồng chéo, lấn sân nhau giữa hai lực lượng pháp y này và bảo đảm sự độc lập, khách quan của hoạt động giám định pháp y trong lực lượng công an nhân dân.
5.2.2. Lĩnh vực pháp y tâm thần
Phương án 1: Như hiện nay, có Viện giám định pháp y tâm thần trung ương và Trung tâm giám định pháp y tâm thần cấp tỉnh ở những địa phương có Bệnh viện tâm thần cấp tỉnh nhưng theo hệ thống dọc (khoảng 30/63 địa phương).
Thực tế cho thấy, vì quá coi trọng việc đáp ứng kịp thời tại chỗ nhu cầu giám định của các địa phương nên cách tổ chức như hiện nay là tràn lan, không căn cứ vào nhu cầu thực tế của hoạt động tố tụng, nơi thì không được đầu tư về cơ sở vật chất, con người, nơi được đầu tư thì hiệu quả hoạt động thấp, lãng phí vì thực tế nhu cầu giám định ở lĩnh vực này rất ít, hàng năm, mỗi tỉnh, thành phố chỉ thực hiện khoảng 10-20 trường hợp, đối tượng giám định pháp y tâm thần không phải là “nóng” như giám định pháp y.
Phương án 2: Đổi mới so với hiện nay: ở Trung ương có Viện giám định pháp y tâm thần trung ương và thành lập Trung tâm giám định pháp y tâm thần theo khu vực, theo hệ thống dọc gồm một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để thực hiện nhiệm vụ: nghiên cứu khoa học pháp y tâm thần, thực hiện giám định tư pháp, tổ chức chữa bệnh bắt buộc theo quyết định của tòa án.
Cũng như giám định pháp y, việc thành lập Trung tâm giám định pháp y tâm thần ở các khu vực để bảo đảm điều kiện lưu giữ, theo dõi đối tượng giám định và thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh bắt buộc theo phán quyết của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời khắc phục được tình trạng thành lập tràn lan, hoạt động không hiệu quả, lãng phí đầu tư.
5.3. Lĩnh vực kỹ thuật hình sự
Hiện tại, các yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng đối với lĩnh vực kỹ thuật hình sự là rất lớn, thường xuyên. Hệ thống các tổ chức kỹ thuật hình sự trong lực lượng công an nhân dân (cấp trung ương và cấp tỉnh) và trong Bộ quốc phòng đang hoạt động nề nếp, hiệu quả, đáp ứng kịp thời và có chất lượng các yêu cầu của hoạt động tố tụng. Vì vậy, không cần phải có sự thay đổi về mô hình tổ chức giám định kỹ thuật hình sự, mà cần tiếp tục củng cố, kiện toàn mô hình tổ chức giám định kỹ thuật hính sự hiện nay, trong đó cần xây dựng thêm một số cơ sở giám định mạnh, trọng điểm (có thể là Phân viện của Viện Khoa học hình sự hoặc đầu tư, phát triển tổ chức giám định kỹ thuật hình sự của một số địa phương mang tầm khu vực, vùng miền) để giải tỏa sự quá tải cho Viện Khoa học hình sự và đáp ứng kịp thời hơn các yêu cầu cần giám định đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, thiết bị chuyên dụng đắt đỏ, công nghệ thật hiện đại.
5.4. Các lĩnh vực khác
Phương án 1: Như hiện nay, chỉ thành lập và duy trì hệ thống tổ chức giám định do Nhà nước bảo đảm và đầu tư ở lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, còn các lĩnh vực khác thì không thiết lập hệ thống tổ chức giám định tư pháp, mà chỉ là mạng lưới tổ chức chuyên môn tham gia hoạt động giám định giám định tư pháp khi được trưng cầu, yêu cầu.
Phương án 2: Thành lập thêm tổ chức giám định tư pháp do nhà nước đầu tư ở một số lĩnh vực khác có nhu cầu giám định khá thường xuyên như tài chính, xây dựng, văn hóa… ở trung ương và một số khu vực.
6. Trình tự, thủ tục trưng cầu, yêu cầu, thực hiện giám định tư pháp; đánh giá kết luận giám định tư pháp
Phương án 1: Khái niệm giám định tư pháp không thay đổi so với quy định hiện hành thì Luật giám định tư pháp sẽ chỉ quy định trình tự, thủ tục trưng cầu của cơ quan, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của chủ thể trưng cầu giám định; quy trình tiếp nhận và thực hiện giám định, giám định lần đầu, giám định bổ sung, giám định lại (kế thừa các quy định của Pháp lệnh giám định tư pháp về vấn đề này), quyền và nghĩa vụ của tổ chức, các nhân thực hiện giám định; trách nhiệm và mối quan hệ giữa thủ trưởng tổ chức chuyên môn được trung cầu thực hiện giám định với cá nhân nhà chuyên môn của tổ chức đó được cử hoặc phân công thực hiện giám định; bổ xung quy định về nguyên tắc, căn cứ, quy trình đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp cảu các cơ quan tiến hành tố tụng.
Phương án 2: Nếu khái niệm giám định tư pháp được mở rộng theo hướng bao gồm cả giám định được thực hiện theo yêu cầu trực tiếp của người tham gia tố tụng thì ngoài các nội dung được quy định ở phương án 1, Luật giám định tư pháp còn quy định thêm cả trình tự, thủ tục yêu cầu giám định của người tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu giám định là người tham gia tố tụng, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đánh giá kết luận giám định đó.
Ngoài ra, nếu cho phép các tổ chức giám định tư pháp của nhà nước thành lập được cung cấp dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân ở ngoài xã hội thì Luật giám định tư pháp cũng cần phải quy định cả quy trình tiếp nhận, thực hiện dịch vụ giám định và giá trị pháp lý kết luận giám định này.
7. Chính sách bảo đảm lợi ích, chế độ đãi ngộ đối với tổ chức, cá nhân chuyên môn thực hiện giám định tư pháp
7.1. Chính sách bảo đảm lợi ích của các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định
7.1.1. Đối với cá nhân
- Ngoài giám định tư pháp và người giúp việc cho người giám định tư pháp là giám định theo chế độ chuyên trách tại các tổ chức giám định tư pháp do nhà nước bảo đảm thì được hưởng ngạch lương riêng, chế độ phụ cấp thâm niên, phụ cấp trách nhiệm, chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo vụ việc và chế độ khác để đảm bảo mặt bằng với những cán bộ chuyên môn trong cùng lĩnh vực đó.
- Người giám định tư pháp là người hưởng lương từ ngân sách nhà nước là giám định tư pháp theo chế độ kiêm nhiệm thì ngoài lương theo ngạch bậc chuyên môn thì còn được hưởng chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo vụ việc.
- Người giám định tư pháp là người hưởng lương từ các tổ chức chuyên môn ngoài khu vực nhà nước hoặc hành nghề cá nhân, khi thực hiện giám định tư pháp thì được hưởng thù lao giám định trong mối tương quan với mức thu nhập mà người đó có được từ hoạt động chuyên môn của mình.
7.1.2. Đối với tổ chức
Các tổ chức giám định tư pháp do nhà nước thành lập và bảo đảm, tổ chức chuyên môn (thuộc khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước), các tổ chức giám định tư pháp do cá nhân, tổ chức thành lập khi thực hiện giám định tư pháp được chi trả đầy đủ các chi phí cần cho việc thực hiện giám định trong mối tương quan với mặt bằng dịch vụ chuyên môn ở lĩnh vực cần giám định.
7.2. Chế độ đãi ngộ đối với tổ chức, cá nhân chuyên môn thực hiện giám định tư pháp
Luật cần thiết quy định rõ những chính sách đãi ngộ cơ bản đói với người làm giám định tư pháp để khẳng định vai trò, ý nghĩa của công tác này như để động viên, thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giám định.
7.2.1. Về vật chất
7.2.1.1. Đối với cá nhân
Người giám định tư pháp và người giúp việc cho giám định tư pháp làm giám định theo chế độ chuyên trách tại các tổ chức giám định tư pháp do nhà nước thành lập và bảo đảm nếu chưa có nhà ở thì sẽ được quan tâm và hỗ trợ về nhà ở như được ưu tiên, đặc cách cho thuê hoặc mua nhà ở của Nhà nước (dành cho người có thu nhập thấp…)
Người giám định tư pháp là người được hưởng lương từ ngân sách nhà nước làm giám định tư pháp theo chế độ kiêm nhiệm nếu chưa có nhà ở thì sẽ được cộng thêm điểm khi xét hồ sơ đề nghị thuê hoặc mua nhà ở của Nhà nước (dành cho người có thu nhập thấp…)
Người giám định tư pháp là người hưởng lương từ các tổ chức chuyên môn ngoài khu vực nhà nước hoặc hành nghề cá nhân, khi thực hiện giám định tư pháp thì được, miễn giảm thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập thực hiện từ việc giám định tư pháp.
7.2.1.2. Đối với tổ chức
Các tổ chức giám định tư pháp, tổ chức chuyên môn sẽ được miễn, giảm thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập từ việc thực hiện giám định tư pháp.
Riêng đối với các tổ chức giám định tư pháp do cá nhân, tổ chức thành lập có thể được xem xét, ưu tiên trong việc thuê đất, nhà của nhà nước để phục vụ cho hoạt động giám định tư pháp; được ưu tiên trong việc đấu thầu cung cấp các dịch vụ chuyên môn cho Nhà nước.
7.2.2. Chế độ đãi ngộ về phi vật chất
Các tổ chức, cá nhân chuyên môn tham gia họat động giám định tư pháp sẽ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (các Bộ, ngành chủ quản hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh…) xem xét, vinh danh và công bố là các tổ chức chuyên môn, nhà chuyên môn giỏi trên cơ quan ngôn luận của Bộ, ngành và địa phương, từ đó tạo uy tín, danh tiếng cho các tổ chức, cá nhân đó.
8. Quản lý nhà nước về giám định tư pháp
8.1. Mô hình quản lý giám định tư pháp
Đổi mới quản lý nhà nước về giám định tư pháp là yêu cầu cấp bách để bảo đảm nâng cao hiệu quả quản lý về công tác này. Cơ chế quản lý nhà nước về giám định tư pháp như hiện nay đã biểu lộ nhiều bất cập như đã phân tích ở báo cáo tổng kết thi hành Pháp lệnh giám định tư pháp. Do vậy, Thường trực Tổ Biên tập đề xuất 3 phương án về cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp để Ban soạn thảo nghiên cứu, xem xét, cho ý kiến, cụ thể như sau:
Phương án 1
Các Bộ, ngành chủ quản chịu trách nhiện trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác giám định thuộc lĩnh vực quản lý. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác giám định tư pháp (vì giám định tư pháp là hoạt động chuyên môn của tổ chức, cá nhân ở lĩnh vực, ngành nghề khác nhau). Bộ tư pháp không chịu trách nhiệm trước Chính phủ về thực hiện quản lý nhà nước về giám định tư pháp như hiện nay.
Việc đề xuát phương án này xuất pháp từ qun niệm bản chất giám định tư pháp là hoạt động chuyên môn ở các lĩnh vực, ngành nghề và ở mỗi lĩnh vực chuyên môn lại do từng Bộ, ngành quản lý. Vì vậy, các Bộ, ngành thực hiện việc quản lý về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp thuộc lĩnh vực do Bộ, ngành quản lý là hợp lý. Tuy nhiên, các Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý về con người, tổ chức, kinh phí, về đầu tư cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định như hiện nay nhưng trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý hoạt động giám định lại chưa rõ ràng. Bộ Tư pháp được giao chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực hiện quản lý nhà nước về giám định tư pháp nhưng chỉ được thực hiện một số nhiệm vụ như ban hành hoặc soạn thảo trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giám định tư pháp và hướng dẫn thi hành; xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật cần thiết cho giám định viên tư pháp và phối hợp với cấp Bộ, ủy bạn nhân dân cấp tỉnh bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cần thiết cho giám định viên tư pháp nên trong hoạt động quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp về giám định tư pháp rất bất cập vì không có các điều kiện đảm bảo, quyền hạn được giao không tương xứng với trách nhiệm nên không thể phát huy tích cực vai trò của mình trong việc thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về công tác giám định theo đúng nghĩa của nó.
Theo cách nhìn nhận trên, để nâng cao trách nhiệm cho các Bộ, ngành chủ quản, trách nhiệm phải tương xứng với quyền hạn, cần quy định mỗi Bộ, ngành phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động giám định tư pháp theo lĩnh vực chuyên môn của Bộ, ngành quản lý. Theo đó, các nhiệm vụ hiện đang do Bộ Tư pháp thực hiện quy định tại Điều 43 của pháp lệnh được phân tách và chuyển giao cho các Bộ thực hiện theo lĩnh vực quản lý và trực tiếp báo cáo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ.
Ưu điểm: Mỗi Bộ, ngành phải chịu trách nhiệm trực tiếp với Chính phủ về công tác giám định thuộc lĩnh vực quản lý thì mỗi Bộ, ngành mình, khắc phục được tình trạng trùng chéo, đùn đẩy trách nhiệm quản lý nhà nước về giám định tư pháp như hiện nay và quy rõ được trách nhiệm, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính.
Hạn chế: Hoạt động quản lý nhà nước về công tác giám định không có cơ quan đầu mối chung thực hiện theo dõi để tổng hợp, tham mưu Chính phủ chỉ đạo chung; việc xây dựng thể chế và ban hành chính sách đối với hoạt động giám định có thể sẽ dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ, không thống nhất.
Phương án 2
Tiếp tục giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp như hiện nay vì nếu không có một Bộ, ngành nào làm đầu mối giúp Chính phủ quản lý thống nhất về công tác giám định tư pháp thì sẽ xảy ra tình trạng thiếu thống nhất trong hoạch định, xây dựng chính sách về giám định tư pháp, không đồng bộ trong quản lý. Tuy nhiên, sẽ bổ sung thêm một số công cụ để Bộ Tư pháp có thể quản lý nhà nước một cách hiệu quả hơn nhưng về cơ bản vẫn không có sự thay đổi lớn, đột phá về bản chất quản lý nhà nước như hiện nay.
Phương án này xuất pháp từ quan điểm đồng ý với phân tích và đánh giá như quan điểm nêu tại Phương án 1 nhưng cho rằng, trong điều kiện hiện nay của nước ta thì ngoài việc quy định của mỗi Bộ, ngành phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động giám định tư pháp theo lĩnh vực chuyên môn của Bộ, ngành quản lý nhưng vẫn phải có một Bộ giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp và đó là Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp tiếp tục đảm nhận các nhiệm vụ quy định tại Điều 43 cảu pháp lệnh giám định tư pháp nhưng cần phải bổ sung những quy định đảm bảo để Bộ Tư pháp thực hiện có hiệu quả.
Ưu điểm: Phương án này xác định, đề cao trách nhiệm của các Bộ, ngành và của người đứng đầu Bộ, ngành trong hoạt động quản lý giám định tư pháp. Từ việc phải chịu trách nhiệm trực tiếp với Chính phủ về hoạt động giám định tư pháp thuộc lĩnh vực quản lý sẽ khắc phục được tình trạng coi nhẹ công tác này như hiện nay và ngươig đứng đầu mỗi Bộ, ngành sẽ phải coi đây là nhiệm vụ thường xuyện của Bộ, ngành mình để quan tâm chỉ đạo thực hiện; việc phối hợp với Bộ Tư pháp của các bộ ngành sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Hoạt động quản lý của Bộ Tư pháp sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn.
Hạn chế: Vai trò của các cơ quan tư pháp trong việc giúp Chính phủ và Ủy ban tỉnh, thành phố quản lý nhà nước về công tác giám định, đặc biệt là sở tư pháp vẫn gặp khó khăn, vì Ngành Tư pháp vẫn không thể quản lý thực chất hiệu quả thực sự nếu không có sự quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ, con người…
Phương án 3
Bộ Tư pháp quản lý nhà nước thực sự, toàn diện. Hệ thống các tổ chức giám định chuyên trách trực thuộc và chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực hiện quản lý nhà nước về giám định tư pháp, trong đó thực hiện việc quản lý về tổ chức, chịu trách nhiệm bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động và các điều kiện vật chất cần thiết khác cho hoạt động giám định tư pháp; kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại về tổ chức; bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp. Các Bộ, ngành quản lý về hoạt động giám định tư pháp theo lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý; ban hành quy trình, quy chuẩn chuyên môn dùng cho giám định tư pháp; kiểm tra, thanh tra hoạt động giám định tư pháp.
Ưu điểm: Việc quản lý nhà nước về giám định tư pháp do Bộ Tư pháp thực hiện sẽ có hiệu quả hơn do có tổ chức giám định tự Trung ương tới địa phương thành hệ thốn dọc do Bộ Tư pháp quản lý; có điều kiện để đảm bảo đầu tư cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định.
Hạn chế: Hoạt động quản lý về tổ chức và hoạt động quản lý về chuyên môn không do cùng một Bộ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện có thể nảy sinh nhiều bất cập, mâu thuẫn. Đặc biệt, nếu theo phương án 3 thì cần phải thay đổi lớn về thiết chế, cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước, trong đó Bộ Tư pháp phải có chức năng quản lý và thực hiện quuyền công tố, điều tra…, mô hình có quan giúp Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về giám định tư pháp hiện nay cũng hải thay đổi, nâng tầm cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.
8.2. Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phối hợp với các cơ quan quản lý giám định tư pháp
Thực tiễn hiện nay cho thấy, hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng là chủ thể trưng cầu giám định, đánh giá, sử dụng kết luận giám định, có điều kiện nắm bắt tình hình thực tế cũng như đánh giá hoạt động giám định một cách sâu sát, toàn diện nhất. Tuy nhiên, với quy định hiện hành thì các cơ quan tiến hành tố tụng không có trách nhiệm gì đối vơi công tác này, dẫn đến các cơ quan nay không quan tâm, không chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý giải quyết những vướng mắc, khó khăn về giám định trong hoạt động tố tụng. Vì vậy, các cơ quan quản lý không có được những thông tin, số liệu về nhu cầu giám định, hoạt động giám định tư pháp để làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách cũng như kịp thời có các giải pháp về giám định tư pháp. Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng, cần phải khắc phục tình trạng này bằng cách quy định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xây dựng chỉ tiêu thống kê, dự báo về nhu cầu giám định, tình hình trưng cầu, thực hiện giám định, đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư pháp.
9. Mối quan hệ của Luật giám định tư pháp và các văn bản pháp luật về tố tụng
Trong nhiều vụ án, kết luật giám định tư pháp là chứng cứ duy nhất hoặc là mấu chốt để xác định sự thật của vụ án nên phải có sự thống nhất giữa các quy định trong Luật giám định tư pháp và các văn bản pháp luật tố tụng. Nếu khái niệm giám định tư pháp được sửa đổi theo phương án mở rộng quyền trực tiếp yêu cầu người giám định tư pháp thực hiện giám định để cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng như trên thì các quy định của pháp luật về tố tụng cũng cần phải điều chỉnh cho phù hợp để phát huy các quyền và quy định trách nhiệm của người tham gia tố tụng, người và cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời pháp luật tốt tụng và Luật giám định tư pháp phải coi văn bản kết luận của người giám định tư pháp trong trường hợp thực hiện theo yêu cầu của người tham gia tố tụng là văn bản kết luận giám định tư pháp và cũng được các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét đánh giá như trường hợp do cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu.
Để tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật, việc xây dựng Luật giám định tư pháp cần thực hiện theo một trong 2 phương án sau:
Phương án 1: Xây dựng song song Luật giám định tư pháp với Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự (sử đổi). Theo nghị quyết số 48/2010QH12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự sẽ được thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XII, Bộ luật tố tụng hình sự được đưa và Chương trình chuẩn bị của năm 2011).
Phương án 2: Sửa đổi một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sư, Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính bằng cách đưa các nội dung sửa đổi này vào quy định trong Luật giám định tư pháp theo kỹ thuật “một luật sử nhiều luật”.
Trên đây là dự kiến những định hướng lớn của việc xây dựng Dự án Luật giám định tư pháp, Thường trực Tổ Biên tập xin báo cáo Ban soạn thảo xem xét, cho ý kiến chỉ đạo để Tổ Biên tập xây dựng dự thảo.
 
THƯỜNG TRỰC TỔ BIÊN TẬP


Share |
Các bài viết khác:
THAM LUẬN HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM NĂM THI HÀNH PHÁP LỆNH GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP (23/12)
Xác thiếu nữ lõa thể dưới chân cầu (22/12)
Vì nhục dục trở thành "ác quỷ" (22/12)
Cái chết bí ẩn của một nhân viên hải quan (22/12)
Hà Nội sẽ “sáng đẹp” đến hết Tết Tân Mão (22/12)
Phẫu thuật thành công ca ghép gan thứ hai cho người trưởng thành (20/12)
Kem bôi nở ngực: “Hiệu quả” mới đáng sợ! (20/12)
Ericsson đưa giải pháp y tế điện tử vào Việt Nam (20/12)
9 thực phẩm tốt cho sức khỏe (17/12)
Tai nạn, một phụ nữ bị hất văng xuống sông (17/12)